Những “báu vật nhân văn sống” chờ vinh danh

(VHGD) – Từ lâu, nhiều nước trên thế giới đã có những chính sách tôn vinh và xây dựng chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân dân gian (NNDG), còn được gọi một cách trân trọng là “báu vật nhân văn sống”. Nhưng ở nước ta hiện nay, những chính sách đãi ngộ với các NNDG còn rất hạn chế. Quan trọng hơn là đừng để những “báu vật sống” phải chờ quá lâu trong khi trung bình tuổi tác của những nghệ nhân đều đã ở tuổi “xưa nay hiếm”.


Từ năm 2002 tới nay, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (VNDGVN) đã phong tặng danh hiệu nghệ nhân cho hơn 150 người. Theo thống kê của Cục Văn hóa cơ sở (Bộ VH-TT-DL), hiện cả nước có khoảng 9.000 lễ hội lớn, nhỏ khác nhau. Phần lớn các lễ hội đó đều có các hoạt động diễn xướng dân gian do các nghệ nhân tham gia trình diễn… Nghệ nhân đóng vai trò then chốt trong việc giữ gìn, thực hành và lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc. Nếu không có họ thì chắc chắn một khối lượng lớn các giá trị văn hóa sẽ không được bảo lưu một cách tập trung nhất cũng như sẽ không có “thầy” để dạy lớp trẻ.

Thế nhưng cho đến nay, các chính sách cụ thể từ Nhà nước vẫn chưa đến với các nghệ nhân văn hóa dân gian. Danh hiệu của Hội VNDGVN mới đơn thuần mang tính tôn vinh chứ chưa có chính sách đãi ngộ đi kèm. Các nghệ nhân vì thế trình diễn, truyền dạy theo niềm đam mê với lương tâm nghề nghiệp là chính chứ hiếm người sống được bằng nghề.

Gần 5 năm qua, Bộ VH-TT-DL cũng đã nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung, gửi văn bản tới các bộ, ngành để cùng ngành thống nhất trình Chính phủ ban hành Thông tư quy định về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục hồ sơ xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân (NNND) và Nghệ nhân ưu tú (NNƯT). Tuy nhiên, đến nay, thông tư này vẫn chưa có và có tới 300 hồ sơ nghệ nhân mà Cục Di sản văn hóa tổng hợp được từ các tỉnh, thành trong cả nước đề nghị xét tặng 2 danh hiệu này để Chủ tịch nước vinh danh vào dịp 2/9 tới vẫn nằm chờ thông tư.

Những tiêu chí để xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT  rất chặt chẽ, như: Đạo đức tốt, được đồng nghiệp yêu mến, kính trọng, tài năng xuất sắc được cộng đồng thừa nhận, tôn vinh, thời gian thực hành 25 năm trở lên với danh hiệu NNND và 20 năm trở lên với NNƯT… Luật Di sản văn hóa được Quốc hội thông qua năm 2001, trong đó ghi: “Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống (NTTT), bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt”. Trên cơ sở đó, Hội VNDGVN ra quy chế công nhận danh hiệu NNDG vào năm 2002, trong đó nêu rõ tiêu chuẩn để được công nhận danh hiệu NNDG: “Nắm giữ và thực hành ở trình độ cao những giá trị, kỹ năng, bí quyết văn hóa nghệ thuật dân gian; sẵn sàng và có khả năng truyền dạy toàn bộ hiểu biết của mình cho thế hệ trẻ”.

Nhìn vào tiêu chuẩn để được công nhận NNDG, có thể thấy có 2 vế rõ ràng, đó là người được xét tặng phải nắm giữ được các giá trị truyền thống và có khả năng truyền nghề. Ở tiêu chí đầu tiên, có nhiều người đáp ứng được. Nhưng cái khó là ở tiêu chí thứ 2. Khó ở đây không phải là họ không muốn truyền nghề, không biết cách truyền nghề, bởi việc này họ đã từng làm từ rất nhiều năm trước, mà là khó thực hiện được bởi lớp trẻ bây giờ không mấy người mặn mà với các loại hình NTTT. Không có người học thì biết truyền nghề cho ai? Để giải quyết vấn đề này, nhất thiết phải có sự vào cuộc của các cấp chính quyền. Qua tìm hiểu thực tế cho thấy có nhiều người nắm giữ những giá trị đặc sắc của các loại hình NTTT. Nhưng khi lập hồ sơ thì đều không thuyết phục vì thiếu những hình ảnh, tư liệu thể hiện sự truyền nghề của người đó.

Những vướng mắc đó đã khiến nhiều nghệ nhân ra đi khi chưa được tôn vinh mặc dù những đóng góp của họ là rất lớn, như: Nghệ nhân Nhã nhạc cung đình Huế – cụ Trần Kích ra đi ở tuổi 90; nghệ nhân hát văn Đào Thị Sại qua đời năm 2009, thọ 97 tuổi; nghệ nhân quan họ Nguyễn Thị Khướu mất năm 2006, thọ 105 tuổi…

Hiện không ít nghệ nhân đang ở cái tuổi thất thập cổ lai hy vẫn đang… chờ được tôn vinh, như: cụ Lữ Hữu Thi (ngoài 100 tuổi, nghệ nhân Nhã nhạc cung đình Huế), cụ Hà Thị Cầu (hơn 90 tuổi, nghệ nhân hát xẩm), cụ Tư Châu (104 tuổi, 90 năm tuổi nghề, nghệ nhân văn hóa dân gian), cụ Tô Thị Tốn (90 tuổi, nghệ nhân hát trống quân), cụ Nguyễn Thị Lơ (84 tuổi, nghệ nhân hát trống quân), cụ Nguyễn Đức Hồ (77 tuổi, nghệ nhân Ca trù)…

Như vậy, việc công nhận NNDG ngoài vai trò tìm kiếm, phát hiện của các nhà sưu tầm văn hóa dân gian; tài năng của chính những cá nhân nắm giữ giá trị NTTT thì sự quan tâm của các cấp chính quyền trong thời điểm hiện tại đóng vai trò quyết định. Để tạo điều kiện truyền dạy, nên chăng, các địa phương cần tổ chức các lớp học NTTT cho lớp trẻ. Hoặc có thể tiến hành đưa các loại hình NTTT vào giảng dạy ở các trường học thành một môn học ngoại khóa… Những sự quan tâm như thế rất cần thiết trong việc phát huy giá trị NTTT vào cuộc sống.

Hồng Loan