[Cải cách giáo dục] – (Phần 2 – Học để làm)

(Báo Văn Hóa Giáo Dục) – Học để làm liên quan mật thiết đến câu hỏi làm thế nào để giáo dục và đào tạo có thể trang bị cho người học các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc sau này.

Ở đây chúng ta sẽ phân biệt rõ hai loại công việc: làm công ăn lương (wage-earners) và tự làm chủ (self-employment). Làm công ăn lương phát triển mạnh suốt thế kỷ 20 do sự phát triển của các nền công nghiệp. Với sự tự động hóa ngày càng cao, người làm công ăn lương càng trở nên khó nhận thấy được (intangible).

Tuy vậy, làm công ăn lương nhấn mạnh mảng kiến thức trong công việc, thậm chí trong công nghiệp và các ngành kinh tế dịch vụ khác. Tương lai của các ngành kinh tế này xoay quanh khả năng của những người làm công ăn lương trong việc chuyển những tiến bộ trong sách vở thành những sáng kiến để tạo ra những lĩnh vực kinh doanh mới và công ăn việc làm mới.

 

“Học để làm” không còn mang ý nghĩa là đào tạo ra những con người để họ làm một công việc tay chân cụ thể trong một dây chuyền sản xuất nữa. Chính vì thế đào tạo kỹ năng ra đời và mang ý nghĩa cao hơn là việc chỉ áp dụng kiến thức cần thiết vào một công việc thường ngày.

Từ các kỹ năng được chứng nhận trong bằng cấp đến năng lực cá nhân

Vai trò chính của kiến thức và thông tin trong ngành công nghiệp sản xuất làm cho khái niệm kỹ năng chuyên môn của lực lượng lao động (specialist skills) trở nên lỗi thời. Khái niệm đó giờ đổi thành “năng lực cá nhân” (personal competence). Những tiến bộ trong công nghệ và sự ra đời của các dây chuyền sản xuất mới đòi hỏi và làm thay đổi các kỹ năng nghề nghiệp.

Các thao tác chân tay đơn thuần giờ đã bị thay thế bởi các công việc mang tính tri thức và vận dụng đầu óc nhiều hơn (như việc vận hành, bảo trì và giám sát máy móc), hoặc các công việc mang tính thiết kế và tổ chức (bởi vì máy móc ngày nay cũng “thông minh” hơn).

Có nhiều lý do cho việc tăng các kỹ năng cần thiết cho công việc ở mọi cấp độ. Thay vì bị sắp xếp để thực hiện một số thao tác liên tiếp như các nguyên tắc của Taylor về việc sắp xếp lao động một cách khoa học, công nhân trong các xưởng sản xuất ngày nay được chia thành từng tổ, đội lao động hoặc từng nhóm dự án theo mô hình của Nhật Bản.

Phương pháp này thể hiện việc “chào tạm biệt” tư tưởng phân chia lực lượng lao động ra thành từng nhóm có cùng thao tác vật lý (mà các thao tác này có thể được học dễ dàng bằng cách làm đi làm lại cho quen).


Hơn thế nữa, ý tưởng cá nhân hóa công việc (nôm na là mình biết việc của mình) được “kế tục” bởi sự có-thể-hoán-đổi-cho-nhau giữa các công nhân. Ngày nay các nhà sử dụng lao động có xu hướng đánh giá nhân viên tiềm năng dựa vào năng lực cá nhân chứ không dựa vào những bằng cấp chứng nhận kỹ năng mà họ đạt được vì những kỹ năng này, theo họ, chỉ thể hiện khả năng làm được những công việc chân tay cụ thể.

Năng lực cá nhân này được đánh giá qua việc quan sát một tập hợp những kỹ năng và tài năng, kết hợp các kỹ năng được đào tạo với các cách hành xử trong xã hội, các sáng kiến cá nhân và một tinh thần sẵn sàng chấp nhận rủi ro.

Nếu ta thêm một yêu cầu về sự cam kết cá nhân của người nhân viên trong vai trò là các tác nhân tạo ra sự thay đổi, rõ ràng là loại năng lực cá nhân này còn bao gồm cả các tư chất mang tính bẩm sinh hoặc được tiếp thu mà ngày nay người ta thường gọi là các kỹ năng “quan hệ với con người” (“people skills” hay “interpersonal skills”).

Trong những phẩm chất đó, kỹ năng giao tiếp (communication skills), kỹ năng làm việc theo nhóm và giải quyết vấn đề (team and problem-solving skills) được xem là quan trọng nhất. Tốc độ phát triển của ngành kinh tế dịch vụ đã dẫn đến sự gia tăng của xu hướng này.


Sự “chia tay” với các công việc tay chân – các ngành công nghiệp dịch vụ

Trong các nền kinh tế tiên tiến có sự “chia tay” với các công việc tay chân. Hàm ý của điều này đối với giáo dục càng rõ hơn nữa khi ta nhìn vào sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ cả về số lượng lẫn chất lượng. 60-80% dân số trong độ tuổi lao động ở các nước công nghiệp hoá đang làm việc trong lĩnh vực dịch vụ.

Đặc điểm nổi bật của lĩnh vực rộng lớn này là nó bao gồm toàn bộ các hoạt động không phải công nghiệp cũng không phải nông nghiệp, và dù vô cùng phong phú, nó cũng không liên quan đến một sản phẩm hữu hình nào.

Nhiều loại hình dịch vụ được định nghĩa chủ yếu dựa vào các mối quan hệ giữa người với người (interpersonal relationship) có liên quan. Bằng chứng cho điều này được tìm thấy cả ở khu vực dịch vụ tư nhân như dịch vụ bảo vệ, dịch vụ tư vấn công nghệ cao, dịch vụ tài chính, kế toán, quản lý và ở cả khu vực nhà nước như dịch vụ xã hội, dịch vụ y tế, giáo dục.

Ở cả hai khu vực này, thông tin và giao tiếp giữ vai trò sống còn. Khía cạnh then chốt ở đây là việc mỗi cá nhân tiếp thu và xử lý dữ liệu cho một mục đích đã được xác định trước. Trong lĩnh vực dịch vụ, cả người cung cấp và người sử dụng dịch vụ đều có ảnh hưởng đến chất lượng của mối quan hệ giữa họ.

Rõ ràng là con người không thể được đào tạo để làm các công việc này theo cách họ học cày một mảnh đất hay làm ra một tấm thép. Những công việc này liên quan đến mối quan hệ giữa người với người, mối quan hệ giữa người công nhân với các vật liệu và quá trình mà họ sử dụng. Sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ đòi hỏi phải có những người có các kỹ năng xã hội và giao tiếp tốt – những kỹ năng thường không được dạy ở nhà trường.

Sau hết, trong các cơ cấu công-nghệ-cực-kỳ-cao ở tương lai, nơi mà việc thiếu đi các mối quan hệ sẽ dẫn đến những lệch lạc chức năng nghiêm trọng thì các kỹ năng mới dựa trên nền tảng quan hệ giữa người với người hơn là nền tảng trí tuệ có thể sẽ cần thiết. Việc này sẽ tạo điều kiện cho những người ít được hoặc không được học hành chính quy bài bản.

Những phẩm chất như trực giác, lương tri, óc suy xét và kỹ năng lãnh đạo không còn là “đặc sản” của những người có trình độ chuyên môn cao. Những kỹ năng ít nhiều mang tính bẩm sinh này được dạy như thế nào và ở đâu? Vấn đề này cũng na ná như vấn đề dạy nghề được đặt ra ở các nước đang phát triển.

Chương trình giáo dục đơn giản không thể được suy ra từ “bản tuyên bố” các kỹ năng và khả năng cần thiết để phục vụ cho một công việc cụ thể nào.


Công việc trong lĩnh vực kinh tế phi chính thức

Bản chất của công việc rất khác nhau giữa các nền kinh tế ở các nước đang phát triển, nơi mà hầu hết những người đi làm không phải là người làm công ăn lương. Ở những quốc gia nằm trong khu vực châu Phi cận Sahara, một số quốc gia ở châu Mỹ Latinh và châu Á, chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ những người làm công ăn lương.

Phần lớn những công việc mang lại kế sinh nhai cho họ không đòi hỏi những phẩm chất công tác nào cụ thể và bí quyết (know-how) chính là điều họ rút ra được từ công việc của mình. Vì lý do này mà giáo dục không thể được đúc khuôn theo các kiểu mẫu dường như chỉ thích hợp với các xã hội hậu công nghiệp.

Ngoài ra, chức năng của học tập không thể chỉ giới hạn ở công việc mà còn phải đạt tới mục đích rộng hơn, đó chính là sự tham gia chính thức hoặc không chính thức vào quá trình phát triển. Để đạt được điều này, người học cần phải được trang bị các kỹ năng xã hội bên cạnh những kỹ năng nghề nghiệp.

Ở các nước đang phát triển khác, một nền kinh tế hiện đại và phi chính thức phát đạt dựa vào thương nghiệp và tài chính có thể tồn tại bên cạnh một khu vực kinh tế chính thức nhỏ hơn và nông nghiệp. Hai nền kinh tế (chính thức và phi chính thức) song song này cho thấy sự hiện diện của các cộng đồng doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được các đòi hỏi địa phương.

Trong cả hai trường hợp, việc cung cấp các hình thức đào tạo đắt tiền với giảng viên được mời từ các trường nước ngoài và tư liệu giảng dạy quốc tế là không cần thiết. Ngược lại, giáo dục phải được phát huy từ sự phát triển nội sinh bằng cách củng cố các tiềm lực địa phương (local potential) và tinh thần trao quyền lực (the spirit empowerment).

Đến đây, chúng ta phải đối mặt với câu hỏi được đặt ra ở cả các nước phát triển và đang phát triển: Con người học cách hành động một cách thích hợp trong các hoàn cảnh không chắc chắn như thế nào? Họ tham gia vào việc định hướng tương lai như thế nào?


Làm thế nào để con người được chuẩn bị sẵn sàng cho đổi mới?

Câu hỏi này được hỏi ở cả những nước phát triển và đang phát triển. Điều cơ bản của câu hỏi này là làm sao để phát triển các sáng kiến cá nhân. Một điều nghịch lý là, những quốc gia giàu có nhất lại thường bị gò bó ở mặt này vì được tổ chức quá chỉnh chu và hình thức bởi các quy chuẩn, đặc biệt là trong hệ thống giáo dục, và vì nỗi lo sợ mạo hiểm nào đó do chính sự hợp lý hóa của mô hình kinh tế mang lại.

Chắc chắn là các hoạt động thể thao, câu lạc bộ, nghệ thuật và văn hóa mang lại cho con người sự huấn luyện để phát triển sáng kiến cá nhân tốt hơn là hệ thống trường học truyền thống. Sự khám phá các xã hội khác nhau thông qua học hỏi và du lịch cũng có thể khuyến khích các hành vi đổi mới. Từ cách nhìn rất riêng này, người ta có thể học được nhiều điều từ việc quan sát các nền kinh tế ở các quốc gia đang phát triển.

Cuối cùng, ở tất cả các quốc gia, tầm quan trọng ngày càng tăng của các nhóm nhỏ, của mạng lưới và của sự cộng tác cho thấy có nhiều khả năng rằng kể từ nay các kỹ năng quan hệ giữa người với người (interpersonal skills) sẽ là yêu cầu cốt yếu cho công việc. Hơn thế nữa, mô hình làm việc mới, trong cả lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, sẽ cần đến việc ứng dụng mạnh mẽ thông tin, kiến thức và óc sáng tạo.

Sau khi cân nhắc hết mọi điều, ta thấy các hình thức mới của năng lực cá nhân sẽ được đặt trên nền tảng kiến thức lý thuyết và thực hành kết hợp với động lực cá nhân và các kỹ năng tốt về giải quyết vấn đề, ra quyết định, giàu sáng kiến và làm việc theo nhóm.

……………………………

Hiệu Minh thực hiện

Nguồn unesco

Gửi phản hồi

You must be Logged in to post comment.