[Cải cách giáo dục] – Phần 1 – Học để biết

(Báo Văn Hóa Giáo Dục) – Khi bạn học để biết tức là bạn không quan tâm nhiều đến việc tiếp thu lượng kiến thức đã được cấu trúc sẵn mà điều bạn quan tâm là làm sao để nắm vững được các công cụ học tập. Nói cách khác, đó là học cách học chứ không phải học kiến thức. Có thể xem học để biết vừa là phương tiện vừa là mục đích của cuộc sống.

Phần 1 - Học để biết

Nếu xem đó là phương tiện, bạn cần phải học để hiểu thế giới xung quanh mình, ít nhất là hiểu để có thể sống một cuộc sống được tôn trọng, phát triển các kỹ năng nghề nghiệp và giao tiếp với người khác. Nếu xem học để biết là một mục đích thì việc học này phải xuất phát từ sự yêu thích tìm hiểu và khám phá kiến thức. Khía cạnh này của việc học thường được tìm thấy ở các nhà nghiên cứu, tuy nhiên, với một phương pháp giảng dạy tốt thì ai cũng có thể áp dụng được.

Kiến thức của bạn càng rộng thì bạn càng hiểu được nhiều khía cạnh của cuộc sống hơn. Học theo cách như thế khuyến khích sự tò mò trí tuệ nhiều hơn, mài giũa khả năng phê phán và thúc đẩy bạn phát triển các phán xét độc lập của mình về thế giới chung quanh. Với cách nhìn việc học như thế thì mọi trẻ em, dù sống ở nơi nào, cũng phải được cơ hội tiếp cận với một nền giáo dục khoa học và trở thành những người bạn của khoa học trong suốt cuộc đời mình.

Tuy nhiên, vì kiến thức vô cùng phong phú và có thể được phát triển vô bờ bến, thật vô ích khi ai đó nỗ lực học để biết hết tất cả. Thực tế là sau khi hoàn thành giai đoạn giáo dục cơ bản, ý tưởng sẽ trở thành một chuyên gia đa lĩnh vực là một ảo tưởng. Chính vì thế mà các chương trình giáo dục trung học phổ thông và đại học được thiết kế xoay quanh một vài ngành học cụ thể với mục đích là cung cấp cho người học các công cụ, ý tưởng và những phương pháp tham khảo.

Nhưng giáo dục chuyên sâu lại cũng không có nghĩa là không cần giáo dục đại cương. Giáo dục ngày nay phải cung cấp cho người học các kiến thức đại cương rộng rãi, đồng thời cũng phải tạo điều kiện để người học có cơ hội tiếp cận nghiên cứu chuyên sâu một số các môn học họ yêu thích. Nếu chỉ được đào tạo chuyên sâu, những nhà chuyên môn giỏi chỉ chăm chăm tập trung nghiên cứu lĩnh vực yêu thích của mình và dần dần không còn quan tâm đến những cái người khác đang làm. Đến khi phải cộng tác với người khác thì họ lại thấy khó khăn, bối rối. Nói cách khác, giáo dục đại cương rèn giũa mối liên hệ không gian và thời gian trong xã hội, làm cho người học dễ dàng tiếp nhận những chi nhánh khác nhau của kiến thức.


Khi lịch sử của khoa học được viết bởi các nhà sử học thì chính các nhà khoa học cũng thấy được tác dụng của điều này. Cũng tương tự như thế, các luật sư, nhà xã hội học, các nhà nghiên cứu về khoa học chính trị cũng cần phải có những kiến thức cơ bản về kinh tế học. Ví dụ sống động nhất là gần đây một vài thành tựu tiến bộ mà con người đạt được là kết quả của sự giao thoa giữa các ngành học khác nhau. Hãy xem vị giáo sư đoạt giải Nobel kinh tế năm 2008 Paul Krugman đã ứng dụng hai chuyên ngành mà ông theo đuổi là kinh tế và quan hệ quốc tế để phân tích và hợp nhất các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau trước đây về thương mại quốc tế và địa lý kinh tế.

Vì thế, học để biết chính là học cách học thế nào để phát triển sự tập trung (concentration), các kỹ năng ghi nhớ (memory skills) và khả năng tư duy (ability to think) của mình.

Từ lúc sơ sinh trẻ con đã phải học cách tập trung vào các sự vật và con người. Quá trình rèn luyện khả năng tập trung có thể có nhiều hình thức khác nhau và được hỗ trợ bởi những cơ hội học tập xuất hiện suốt quãng đời người (trò chơi, các chương trình trải nghiệm trong công việc, du lịch, các hoạt động thực hành khoa học, v.v.)

Sự phát triển của kỹ năng ghi nhớ là một công cụ đắc lực cho việc chế ngự dòng chảy thông tin “mì ăn liền” quá mạnh mẽ do giới truyền thông cung cấp. Thật nguy hiểm nếu kết luận rằng con người không cần cải thiện khả năng ghi nhớ của mình do đã có sẵn năng lực lưu trữ và phân phối thông tin.


Con người cũng cần phải biết lựa chọn những dữ kiện để “học thuộc lòng”. Một khi dữ kiện đã được ghi nhớ, con người có khả năng thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện “có bà con xa lắc xa lơ” với nhau tốt hơn cả máy tính. Khả năng đặc trưng của con người về việc liên kết các dữ kiện được ghi nhớ là quá trình không thể tự nhiên mà có. Quá trình này phải được tập luyện, trau dồi một cách cẩn thận. Hơn thế nữa, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng kỹ năng ghi nhớ phải được phát triển từ lúc còn bé, và thật nguy hiểm nếu bỏ đi các bài tập tập kiểu truyền thống ở trường (tức là học thuộc lòng) bởi vì chúng bị cho là quá nhàm chán.

Kỹ năng suy nghĩ (hay tư duy) là điều mà trẻ con học được đầu tiên ở cha mẹ và thầy cô. Quá trình này cần phải chứa đựng trong nó cả hai kỹ năng giải quyết vấn đề thực tế và tư duy trù tượng. Vì thế giáo dục và nghiên cứu cần phải kết hợp cả lý luận diễn dịch (deductive) và quy nạp (inductive), mà hai quá trình này thường được xem là đối lập nhau. Trong khi kiểu lý luận này được xem là phù hợp hơn kiểu lý luận kia, tùy vào môn học được giảng dạy, nhìn chung là không thể theo đuổi một dòng tư tưởng logic nếu không kết hợp cả hai.

Quá trình học để tư duy (suy nghĩ) kéo dài suốt đời và có thể được nâng cao bởi bất cứ loại kinh nghiệm nào của con người. Ở khía cạnh này, khi công việc của con người ngày càng bớt nhàm chán họ sẽ nhận ra rằng kỹ năng tư duy của mình ngày càng được thử thách ở nơi công tác.

………………………………….

Hiệu Minh thực hiện

Nguồn Unesco

Gửi phản hồi

You must be Logged in to post comment.